Excerpt for Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát by , available in its entirety at Smashwords


GIẢI PHÁP MỚI CHO VẤN ĐỀ LẠM PHÁT

Giúp thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lạm phát- suy thoái

——————————————————

MỤC LỤC


GIẢI PHÁP MỚI CHO VẤN ĐỀ LẠM PHÁT


TÓM TẮT

Tiền giấy bản vị hàng hóa chung và tiền giấy bất khả hoán

Chương 1: NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT

1.1. Tiền giấy chỉ là một loại tem phiếu đặc biệt

1.2. Vì sao có lạm phát

Chương 2: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ LẠM PHÁT

2.1. Những quan điểm xuất phát

2.2. Phương án A: đưa tiền vào lưu thông nhờ vào các doanh nghiệp thương mại

2.3. Xây dựng mô hình hệ thống ngân hàng để quản lý và kiểm soát việc đưa tiền vào lưu thông theo phương án A

2.4. Giải pháp mới cho tình trạng lạm phát

Chương 3: KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

Tính khả thi của giải pháp – tính khả thi của mô hình hệ thống ngân hàng 3 cấp

Biện pháp kiềm chế lạm phát của Paul Samuelson chỉ là biện pháp tình thế

Nguyên nhân và giải pháp lạm phát để cứu vãn nền kinh tế thị trường

Tem phiếu là dạng sơ khai ban đầu của tiền giấy

Tại sao tiền giấy không cần có giá trị thực

Chức năng cất trữ của tiền giấy

Sự khác nhau giữa tiền giấy và các loại tiền khác

Ứng xử với lạm phát, người tiêu dùng làm gì để giảm lạm phát

Tích cực gửi tiết kiệm vào ngân hàng góp phần hạn chế lạm phát

Tăng lương có làm gia tăng lạm phát không ?

Đồng tiền của bất cứ quốc gia nào cũng đều có thể trở thành một ngoại tệ mạnh

Nguồn tiền để đầu tư, tiêu xài và dòng chu chuyển của tiền tệ trong xã hội

Đầu ra sản phẩm cho kinh tế trang trại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÓM TẮT

Giải quyết vấn đề lạm phát bằng cách đưa tiền vào lưu thông trực tiếp nhờ vào các doanh nghiệp thương mại để luôn tôn trọng được nguyên tắc: “Tiền chỉ được đưa vào lưu thông khi trong xã hội đã có được (mua được) vật tư, hàng hóa làm vật đối chứng để đảm bảo giá trị đồng tiền; và khi vật tư, hàng hóa đó, vật đối chứng đó không còn, đã được bán đi tiêu thụ, thì tiền từ trong lưu thông phải được thu về”.

Vì vậy chúng ta sẽ vẫn luôn có được sự cân đối về mặt giá trị giữa Hàng hóa và Tiền tệ trong nền kinh tế luôn vận động và phát triển, lạm phát mặc nhiên sẽ được loại trừ. Chúng ta sẽ thoát khỏi vòng xoáy: cung tiền - lạm phát - suy thoái. Giá trị đồng tiền quốc gia sẽ luôn được giữ vững và ổn định.

Giải pháp này sẽ giúp các nước đang bị lạm phát cao như Venezuela, Zimbabue,... kiểm soát được sự cân đối về mặt giá trị giữa hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế thị trường của đất nước họ, từ đó sẽ kiểm soát và dần dần sẽ loại trừ được lạm phát.

Giải pháp này cũng có thể giúp các nước muốn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (như Cuba, Bắc Triều tiên, ...) sang nền kinh tế thị trường một cách an toàn, hiệu quả, và tránh không gây ra những cú sốc lớn (do giá cả tăng cao) trong nền kinh tế, nhờ vào việc kiểm soát được sự cân đối về mặt giá trị giữa hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế của đất nước họ.

Giải pháp này sẽ giúp các nước trên thế giới hoàn thiện thêm nền kinh tế thị trường, giúp các nước thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lam phát- suy thoái. Nền kinh tế thị trường của các nước sẽ nhanh chóng phát triển như bản thân nó có thể mà không còn bị tình trạng lạm phát hay thiểu phát níu kéo nó thụt lùi trở lại nữa.



Tác giả: Nguyễn Cao Dũng

Bảo lưu bản quyền. Mọi trích dẫn vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.

Written by Nguyen Cao Dung

Copyright reserved. Please quote the source and author's name.

Tiền giấy bản vị hàng hóa chung và tiền giấy bất khả hoán

Như bạn đã biết, tiền giấy [theo] bản vị vàng là loại tiền giấy thay thế cho tiền bằng vàng mà người ta ký‎ gửi [tiền bằng vàng] tại ngân hàng. Người có loại tiền giấy này có thể đến nơi mà tiền giấy được đưa vào lưu thông (ngân hàng phát hành) để đổi lấy một số lượng vàng có giá trị tương ứng với con số giá trị ghi trên tờ tiền giấy vào bất cứ lúc nào họ cần. Chế độ tiền giấy theo bản vị vàng là hàng rào chống lại lạm phát, nó ngăn cản không cho phép Chính phủ tùy tiện in tiền giấy.

Nay mở rộng hơn, chúng ta sẽ mở rộng phát triển chế độ tiền giấy bản vị hàng hóa vàng thành chế độ tiền giấy bản vị hàng hóa chung (bản vị hàng hóa vàng mở rộng) cho tất cả các loại hàng hóa có trên thị trường (trong đó có vàng). Chúng ta sẽ lấy tất các loại hàng hóa có trên thị trường (trong đó có vàng) làm cơ sở cho tiền tệ, làm cơ sở cho việc đưa tiền vào lưu thông. Theo chế độ tiền giấy bản vị hàng hóa chung này, người có loại tiền này đều có thể đến nơi tiền được đưa vào lưu thông (các doanh nghiệp thương mại) để đổi ra hàng hóa có giá trị tương ứng với con số giá trị ghi trên tờ tiền giấy vào bất cứ lúc nào họ cần.

Vàng là một loại kim loại quý, hiếm và không có nhiều trong xã hội. Trong khi đó, dân số trong xã hội ngày càng tăng, nền kinh tế ngày càng phát triển, hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều và đa dạng, do đó đòi hỏi tiền – phương tiện vật trung gian trao đổi – cũng cần phải có ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu trao đổi hàng hóa của mọi người cho nhau trong xã hội. Nhưng vàng lại không có nhiều, nên chế độ tiền giấy khả hoán bản vị vàng không thể đảm bảo có đủ số lượng tiền cần thiết trong lưu thông. Do đó nó đã gây ra sự thiếu tiền, thiếu phương tiện trao đổi hàng hóa, gây ứ đọng hàng hóa, ách tắc trong quá trình lưu thông [và] trao đổi hàng hóa, dẫn đến đình đốn sản xuất, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, gây ra suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế.

Chế độ tiền giấy bản vị hàng hóa chung sẽ khắc phục được nhược điểm trên của chế độ bản vị [hàng hóa] vàng, tiền- phương tiện trung gian trao đổi, sẽ không còn bị thiếu tiền trong lưu thông. Nhờ đó việc trao đổi hàng hóa của mọi người cho nhau trong xã hội sẽ được dễ dàng, nhanh chóng, thông suốt, và không còn bị ách tắc. Hàng hóa sản xuất ra sẽ không còn bị ứ đọng do bị tình trạng thiếu tiền trong lưu thông (thiếu tính thanh khoản - mọi người đều có nhu cầu về các loại hàng hóa có trên thị trường nhưng lại không có tiền để mua), nền sản xuất sẽ không còn bị ngưng trệ và đình đốn. Chế độ tiền giấy bản vị hàng hóa chung này sẽ giúp phòng tránh và ngăn ngừa các cuộc suy thoái và khủng hoảng kinh tế.

Tiền giấy bản vị hàng hóa chung này là loại tiền giấy khả hoán [hàng hóa], nó có khả năng chuyển đổi tiền giấy ra thành hàng hóa vào bất cứ lúc nào tại nơi nó được đưa vào lưu thông (tại các doanh nghiệp thương mại). Nó không phải là loại tiền giấy bất khả hoán. Nó luôn có được hàng hóa tại nơi nó được đưa vào lưu thông (tại các doanh nghiệp thương mại) làm vật đối ứng đảm bảo giá trị đồng tiền. Cũng giống như chế độ tiền giấy bản vị [hàng hóa] vàng, chế độ tiền giấy bản vị hàng hóa chung này là hàng rào chống lại lạm phát, nó ngăn chặn không cho phép Chính phủ tùy tiện in tiền giấy ra để đầu tư, tiêu xài hoặc cho vay để đầu tư, tiêu xài, do đó sẽ không gây ra lạm phát.

Trong khi đó, tiền giấy bất khả hoán là loại tiền giấy bị cưỡng bức và bắt buộc lưu hành, dân chúng không thể đem tiền giấy đến nơi nó được đưa vào lưu thông (ngân hàng trung ương - ngân hàng phát hành và đưa tiền vào lưu thông) để đổi lấy vàng hay bạc hay một loại hàng hóa nào khác.

Tiền giấy bất khả hoán không có được sự đảm bảo giá trị bằng vàng, bạc hay bất cứ một loại hàng hóa nào khác tại nơi nó được đưa vào lưu thông. Chế độ tiền giấy bất khả hoán không ngăn chặn được việc Chính phủ chủ quan (dẫn đến tùy tiện) in tiền ra để đầu tư, tiêu xài hoặc cho vay để đầu tư, tiêu xài, do đó đã gây ra lạm phát .

Chính chế độ tiền giấy bất khả hoán (các nước trên thế giới hiện đang sử dụng) là nơi khởi nguồn sản sinh ra lạm phát, sản sinh ra sự bấp bênh, bất ổn định, gây tâm lý bất an, rối loạn, và làm khủng hoảng nền kinh tế tài chính tiền tệ trong phạm vi của từng quốc gia, khu vực, cũng như trên phạm vi toàn cầu.

Chương 1

NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT

Cho đến nay, tại Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, lạm phát vẫn là mối đe dọa thường xuyên đối với sự phát triển của nền kinh tế. Lạm phát làm cuộc sống của mỗi người thêm phần lo âu suy nghĩ đối phó, làm giảm chất lượng cuộc sống của những người thu nhập thấp, ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong xã hội. Ảnh hưởng lạm phát sẽ làm giảm sức mua của người nghèo và làm tăng bất bình đẳng về thu nhập, làm chựng lại các mối quan hệ kinh tế [liên quan đến] mua [và] bán, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng của nền kinh tế.

Nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát chủ yếu là do Chính phủ đã in tiền giấy ra để chi tiêu để bù đắp vào phần thiếu hụt của Ngân sách, và/hoặc do Chính phủ/Ngân hàng Trung ương đã in tiền giấy ra để cho các tổ chức kinh tế khác vay để đầu tư sản xuất, xây dựng cơ bản,… nhưng Chính phủ không có được vật đối ứng để đảm bảo giá trị giá trị đồng tiền.

Để hiểu rõ hơn nguyên nhân vì sao có lạm phát, trước hết chúng ta cần nghiên cứu xem tiền (tiền giấy) thực sự là gì.

1.1. Tiền giấy chỉ là một loại tem phiếu đặc biệt

Xem xét trong nền kinh tế của các nước (như Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên,…) đã sử dụng tem phiếu nhiều năm trước đây, mỗi một loại tem phiếu sẽ được phát hành tương ứng cho mỗi loại hàng hóa.

Trên mỗi tem phiếu được ghi rõ số lượng và loại hàng hóa mà nó đại diện.

Người sở hữu tem phiếu đó sẽ nhận được số lượng và loại hàng hóa tương ứng được ghi trên tem phiếu.

Càng có nhiều tem phiếu thì người đó sẽ càng có cơ hội nhận được nhiều số lượng và nhiều loại hàng hóa.

Mọi người sau khi đã nhận được hàng thì tem phiếu sẽ được hủy (xé) đi.

Việc hủy đi như vậy sẽ tạo nên sự lãng phí và tốn kém cho xã hội, rất nhiều loại tem phiếu được phát hành ra và sau đó lại bị hủy đi sau khi mọi người nhận được hàng hóa.

Chúng ta có thể cải tiến các tem phiếu này để có thể tái sử dụng lại để tránh gây ra sự lãng phí cho xã hội.

Số hóa các loại tem phiếu

Các tem phiếu được phát hành tương ứng với từng loại sản phẩm, hàng hóa được đem đi phân phối.

Số lượng từng loại tem phiếu được phát hành tương ứng với khối lượng từng loại hàng hóa được đem đi phân phối.

Các tem phiếu được phát hành ra khi có được hàng hóa trong xã hội, và tem phiếu được phân chia cho các thành viên và tổ chức trong xã hội.

Trong xã hội có các loại hàng hóa: A, B, C, D, E, F,….

với các khối lượng: Ma, Mb, Mc, Md, Me, Mf,…

Ta làm theo từng bước sau:

Chúng ta sắp xếp các mặt hàng được đem đi phân phối theo giá trị từ thấp đến cao.

Xã hội có n loại mặt hàng thì sẽ có n loại tem phiếu.

Mỗi một tem phiếu được phát hành ra tương ứng với mỗi một khối lượng (số lượng) của loại hàng hóa mà nó đại diện.

Mỗi một mặt hàng ở vị trí thứ i có Mi đơn vị khối lượng thì cũng sẽ phát hành Mi số lượng tem phiếu tương ứng.

Tổng số lượng tem phiếu sẽ được phát hành sẽ tương ứng với tổng khối lượng (số lượng) sản phẩm, hàng hóa sẽ được đem đi phân phối cho mọi người trong xã hội.

Chúng ta không cần ghi rõ tên và loại hàng hóa, sản phẩm lên trên tem phiếu nữa. Chúng ta sắp xếp các mặt hàng theo giá trị từ thấp đến cao, nhờ đó giá trị của các mặt hàng sẽ được so sánh, xác định và được quy ra thành những con số cụ thể (thể hiện giá trị thấp hay cao của mặt hàng đó). Chúng ta sẽ ghi rõ con số (giá trị của hàng hóa) lên trên tem phiếu thay cho việc ghi tên loại hàng hóa đó trên tem phiếu. Các con số (giá trị của hàng hóa) ghi trên tem phiếu là những số nguyên dương hoặc thập phân (ví dụ: 1; 2,15; 10; 25,55; 100; 312;…).

Để lấy được đúng sản phẩm, hàng hóa mà mình thật sự cần, mọi người lúc này có thể trao đổi các tem phiếu cho nhau, nhưng sự trao đổi này vẫn còn một số bất tiện do các con số thể hiện giá trị của hàng hóa ghi trên tem phiếu thường là các số lẻ, gây ra những khó khăn nhất định cho việc trao đổi. Chúng ta thấy rằng tổng giá trị tem phiếu được phát hành sẽ bằng với tổng giá trị hàng hóa có trong xã hội. Với các số giá trị thể hiện trên tem phiếu thường là những số lẻ, gây ra những khó khăn nhứt định cho việc trao đổi phiếu giảm giá. Vậy chúng ta có thể cải tiến thêm nữa được không ?

Thống nhất các loại tem phiếu

Chúng ta sẽ phát hành một loại tem phiếu mới mà từ đó nó có thể đại diện cho tất cả các loại hàng hóa trong xã hội, với những con số chẵn ghi trên một số tem phiếu mới này (ví dụ: 1; 2; 5; 10; 20; 50; 100; 500; 1.000;…), và những con số lẻ ghi trên một số tem phiếu mới khác (ví dụ: 0,1; 0,2; 0,5; 0,01; 0,02; 0,05;…). Tổ hợp các loại tem phiếumới này sẽ không đại diện cho riêng bất kỳ một mặt hàng riêng lẻ nào cả mà nó sẽ đại diện chung cho tất cả các loại hàng hóa có trong xã hội.

Tổng giá trị tem phiếu mới này được phát hành dĩ nhiên cần phải bằng với tổng giá trị sản phẩm, hàng hóa sẽ được phân phối cho mọi người trong xã hội. Ai muốn đổi tem phiếu để lấy một một mặt hàng nào đó với giá trị có số lẻ (ví dụ: mặt hàng X (có giá trị 31,95) chẳng hạn), họ có thể đưa ra 01 tem phiếu (50) và nhận lại 01 tem phiếu (10), 01 tem phiếu (5), 03 tem phiếu (1), và 01 tem phiếu (0,05) và nhận được mặt hàng X đó (50 – 31,95 = 18,05 = 10 + 5 + (1 x 3) + 0,05). Nhờ mọi người đều có được một số kiến thức toán số học đơn giản, và các loại sản phẩm, hàng hóa được so sánh và xác định (bằng những con số giá trị cụ thể), sự trao đổi tem phiếu mới đó để lấy hàng hóa sẽ được dễ dàng và thuận tiện hơn.

Sau khi mọi người đã nhận được sản phẩm, hàng hóa thì các tem phiếu này sẽ được thu nhận về. Các tem phiếu này sẽ không cần phải bị hủy đi sau khi thu nhận về do sự tiện dụng của nó, và các tem phiếu này hoàn toàn có thể dễ dàng tái sử dụng lại cho lần sau. Các loại tem phiếu đặc biệt này có giá trị sử dụng đặt biệt quan trọng, vì vậy cần thiết phải có một cơ quan chức năng và có thẩm quyền của Chính phủ để xác thực, chứng thực và quản lý các loại tem phiếu đó.

Sau một quá trình cải tiến khá phức tạp ở trên, ta thấy tem phiếu trở thành giống hệt và trùng khớp với dạng tiền giấy ngày nay. Tem phiếu đặc biệt này chính là tiền giấy. Tiền giấy thực chất chính là một loại tem phiếu đặc biệt, nó đại diện cho tất cả các loại hàng hóa có trong xã hội và nó được sử dụng đi được sử dụng lại nhiều lần trong xã hội.

Tem phiếu được phát hành khi đã có hàng hóa trong xã hội. Tiền giấy chỉ là một loại tem phiếu đặc biệt, vì vậy tiền giấy cũng chỉ nên được phát hành và đưa vào lưu thông khi đã có được hàng hóa trong xã hội. Việc xác định rõ thực chất tiền giấy là gì sẽ giúp chúng ta hiểu được một cách thấu đáo hơn về tiền tệ, từ đó phát hành tiền tệ và sử dụng tiền tệ một cách khoa học hơn, tránh gây ra những sự xáo trộn (lạm phát) không đáng có trong xã hội.

1.2. Vì sao có lạm phát

Xét trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng cho toàn xã hội.

Ta phân chia nền kinh tế thành 4 khu vực sản xuất:

Khu vực 1: khu vực sản xuất tư liệu sản xuất (TLSX),

Khu vực 2: khu vực sản xuất nguyên vật liệu,

Khu vực 3: khu vực sản xuất nhiên liệu, và

Khu vực 4: khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng (TLTD).

Ta gọi:

Khu vực 1: Sự hoạt động sản xuất trong ngành sản xuất tư liệu sản xuất với sự tham gia của máy móc thiết bị (C1), nguyên vật liệu (Ng1), nhiên liệu (Nl1), sức lao động và sự hợp tác của con người trong các doanh nghiệp (V1) sản xuất ra tư liệu sản xuất (C) đủ dùng cho toàn xã hội. Về mặt giá trị, ta có thể diễn đạt bằng công thức toán học sau:

C1 + Ng1 + Nl1 + V1 = C (1)

Khu vực 2: Sự hoạt động sản xuất trong ngành sản xuất nguyên vật liệu với sự tham gia của máy móc thiết bị (C2), nguyên vật liệu (Ng2), nhiên liệu (Nl2), sức lao động và sự hợp tác của con người trong các doanh nghiệp (V2) tạo ra nguyên vật liệu (Ng) đủ dùng cho toàn xã hội. Về mặt giá trị, ta có thể diễn đạt bằng công thức toán học sau:

C2 + Ng2 + Nl2 + V2 = Ng (2)

Khu vực 3: Sự hoạt động sản xuất trong ngành sản xuất nhiên liệu với sự tham gia của máy móc thiết bị (C3), nguyên vật liệu (Ng3), nhiên liệu (Nl3), sức lao động và sự hợp tác của con người trong các doanh nghiệp (V3) tạo ra nhiên liệu (Nl) đủ dùng cho toàn xã hội. Về mặt giá trị, ta có thể diễn đạt bằng công thức toán học sau:

C3 + Ng3 + Nl3 + V3 = Nl (3)

Khu vực 4: Sự hoạt động sản xuất trong ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng với sự tham gia của máy móc thiết bị (C4), nguyên vật liệu (Ng4), nhiên liệu (Nl4), sức lao động và sự hợp tác của con người trong các doanh nghiệp (V4) tạo ra tư liệu tiêu dùng (P) đủ dùng cho toàn xã hội. Về mặt giá trị, ta có thể diễn đạt bằng công thức toán học sau:


Purchase this book or download sample versions for your ebook reader.
(Pages 1-13 show above.)